Ảnh của Tôi
16 Phan Ngọc Tòng P.2, TP.Bến Tre, Vietnam
Tin học - Bến tre - Vi tính - Bến Tre - Laptop Bến Tre - Thiết kế - Hướng dẫn - Sửa chữa Lắp ráp cài đặt - Phục hồi ảnh cũ - Hướng dẫn - Dựng đĩa Phim Nhạc - ảnh Kỹ thuật số - Đồ họa - CD&DVD Soft Driver... Các dịch vụ liên quan đến vi tính tin học. Nơi bạn đến là được. Tin hoc Ben tre tnx -Vi tinh Ben Tre tnx - Tân Nam Xương - Bến Tre tin hoc tnx - Ben Tre vi tính tnx -bentretnx - vitinhtnx

Nét đẹp phụ nữ và tướng số.

Tướng Mỹ Nhân

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.
Theo quan niệm Á Đông mỹ nhân đẹp thường có khuôn mặt hình trái xoan, chân mày lá liểu, mắt phượng, làn môi cong, vóc liểu, mình mai, bàn chân nhỏ, bước đi ngắn…Tuy nhiên theo quan niệm tướng pháp thì một người đẹp dưới mắt thế tục không nhất thiết là đẹp trong tướng pháp.

Người phụ nữ đẹp phương Tây phải hội đủ 27 tiêu chuẩn sau:
1-Ba thứ trắng: da, răng và đôi bàn tay.
2-Ba thứ đen: mắt, đôi mi và đôi mày.
3-Ba thứ hồng: môi, má và móng tay.
4-Ba thứ dài:, chân, tóc và tay.
5-Ba thứ ngắn: răng, tai và đôi bàn chân.
6-Ba thứ nở: ngực trán và mi mắt.
7-Ba thứ hẹp: miệng, eo và gót chân.
8-Ba thứ bụ bẩm: cánh tay, đùi và bắp chân.
9-Ba thứ nhỏ: núm vú, mũi và đầu.
Cái đẹp của phụ nữ dưới con mắt thẩm mỹ thế tục có những điểm tương đồng với nét đẹp nhân tướng học, nhưng về phương diện tướng pháp áp dụng các nguyên lý Âm Dương và Dịch học thì “trong Âm có Dương, trong Dương có Âm”, và “vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản” (vật đến tận cùng thì biến đổi, khi đến cùng cực thì trở lại gốc cũ), thì trong cái đẹp (Dương) thường ẩn chứa cái xấu (Âm), chẳng hạn dung mạo xinh đẹp mà giọng nói khàn khàn như tiếng vịt đực, dáng mảnh mai mà đi đứng nặng nề như đàn ông,v.v… và cái đẹp cùng cực làm cho nhạn sa, cá lặn, trăng thẹn, hoa nhường của tứ đại mỹ nhân Trung Hoa cũng ẩn chứa những nét tướng xấu như bàn chân lớn (Tây Thi), ngực nhỏ (Chiêu Quân), tai nhỏ (Điêu Thuyền), mắt lộ ánh mắt yếu (Dương Quý Phi) làm cho cuộc đời của các mỹ nhân không toàn mỹ, như thế những nét đẹp mỹ nhân trên rõ ràng tương phản với các nét đẹp tướng pháp.



Một nét đẹp của mỹ nhân đi đến chỗ cùng cực trở thành tướng xấu điển hình là người con gái có da thịt mềm mại, êm như bông là tướng cách “tiện dâm”.
Thuý Kiều qua ngòi bút Nguyễn Du cũng có những nét đẹp và tài hoa phát tiết quá độ nên “tướng sĩ” đã nhìn ra được cái hồng nhan bạc phận của nàng từ thuở ấu thơ:
“Nhớ từ năm hãy thơ ngây,
Có người tướng sĩ đoán ngay một lời:
Anh hoa phát tiết ra ngoài,
Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa.(Kiều).
Trong buổi giao thời giữa văn minh Âu Tây và văn hóa còn khép kín Á Đông các chàng trai Nam bộ đã nghiêng về nét đẹp tân thời trong mấy câu dân ca sau:
“Một yêu mặt trắng má tròn
Hai yêu môi mọng thoa son điểm hồng
Ba yêu mắt sáng mày cong
Bốn yêu mái tóc nực nồng nước hoa.
Năm yêu mảnh áo ngắn tà
Sáu yêu quần trắng là đà gót sen
Bảy yêu vóc liễu dịu mềm
Tám yêu giọng nói vừa hiền vừa vui
Chín yêu học thức hơn người
Mười yêu, yêu cả đức tài hình dong!”

Dĩ nhiên những nét tướng cân đối, sáng sủa, thùy mị, dịu dàng, đôn hậu, thơm tho thì cái nhìn thế tục và tướng học đều cùng một quan niệm.

Nói rõ hơn những nét tướng lành và đẹp của mỹ nhân Á Đông xưa nay được người đời công nhận gọi là chín tướng đẹp (cửu mỹ tướng) gồm:
1-Đầu tròn, trán phẳng, quang nhuận.
2-Xương thịt cân đối, thân hình thon mảnh, da dẻ mịn màng.
3-Da trắng, mặt trắng hơi hồng, môi hồng hào tươi tắn.
4-Mắt phụng, mày nguyệt (vành trăng non, lá liễu).
5-Ngón tay búp măng, lòng bàn tay dày.
6-Giọng nói êm dịu, rõ ràng, khoan thai.
7-Đi đứng ngay ngắn, khoan thai, ngồi thư thái, đoan chính.
8-Cười dịu dàng, đôn hậu, không ầm ĩ chát chúa, không lẳng lơ, không hở lợi.
9-Da thịt thơm tho tự nhiên.
Những tướng cách trên nói lên sức khoẻ tốt (điểm 1, 2, 3, 6, 9), tính nết tốt (điểm 6, 7, 8) và cả hoàn cảnh giáo dục gia đình tốt (6, 7, nếu lại có thêm một nền tản học vấn khá nhất định người phụ nữ sẽ trở thành vợ hiền, mẹ hiền, hỗ trợ tốt chồng con trên con đường công danh sự nghiệp, xây dựng gia đình hạnh phúc.
Ngoài ra cổ nhân còn đưa ra chín tướng xấu của phụ nữ gọi là cửu ác đối lập với cửu mỹ ở trên gồm:
1.Mặt xấu, hai gò má cao, hại chồng.
2.Yết hầu lộ, đem lại tai họa.
3.Đầu xù, mặt bẩn, thấp hèn.
4.Đi uốn éo như rắn bò, hoặc như chim sẽ nhãy, nghèo hèn.
5.Mày giao nhau áp sát gần mắt, cùnh khốn.
6.Trên mũi có vết móc câu, khắc hại chống.
7.Mắt tứ bạch (tròng trắng lộ ra bao 4 phía tròng đen), hung hãn vụng dại.
8.Giọng nói khàn đục như đàn ông, khắc sát phu.
9.Tóc xoăn xoắn ốc, nghèo hèn và khắc con cái.

Người xưa thường coi trọng cái đức của người đàn bà hơn cả “cái nết đánh chết cái đẹp” có lẽ họ nhìn thấy bao nhiêu triều đại sụp đổ vì mỹ nhân, bao nhiêu gia đình tan nát vì kỹ nữ đến nổi nguyên lý ” mỹ nhân thường tác kỹ” trở thành chân lý?
Vì thế về tướng lý phụ nữ chỉ có sắc đẹp không thôi thì không phải là quý tướng.
Ngày xưa các hồng nhan phần lớn thường rơi vào hoàn cảnh làm thiếp hoặc vợ lẽ, còn thời hiện đại phụ nữ được giải phóng thì các minh tinh màn bạc, siêu người mẫu thường nổi tiếng nhiều chồng, khi lấy chồng ít khi ở địa vị nguyên phối hay người vợ đầu. Trái lại những người phụ nữ ở vị trí nguyên phối thường không có sắc đẹp đến tuyệt điểm mà thường là những người có tướng cách tốt.
Theo các sách tướng cổ thì những nét tướng tốt ấy là:
-Ngũ nhạc đoan hậu, thần khí uy nghiêm, mắt đẹp thanh nhã không đẹp mê hoặc, hành động thông minh nhanh nhẹn như nước chảy, âm thanh êm mà trong sáng như ngọc rơi là tướng vương phi.
-Cốt khí lỗi lạc, ngũ nhạc đoan hậu, thần sắc ôn hòa là tướng phu nhân.
-Sắc khí của trán và mũi sáng sủa tươi nhuận. Sống mũi chạy dài nối với ấn đường gọi là mũi “thông thiên đình” các bộ vị ngũ nhạc cân xứng là tướng cực cao sang.
-Mặt rồng, phần trước cổ như hình phượng là tướng hoàng hậu (ngày xưa). Thời nay, chính quyền phải chia xẻ quyền lực cho nhiều người, nhiều trung tâm, nên vợ nguyên thủ không nhất thiết có tướng cách tốt như hoàng hậu.
-Mặt tròn, ngũ quan lục phủ cân bằng, má ứng hồng, tóc dài đen bóng sẽ lấy chồng hiền và phú quý.
-Thân hình trên dưới đều đặn, mắt đen bóng, thì thông minh. Mũi, lưỡng quyền cân xứng suốt đời phú quý phong lưu.
-Xương thịt tương xứng, tóc đen như lông quạ, trán rộng tròn bằng phẳng (không sẹo), xương gò má bằng phẳng rộng rãi sáng sủa, mũi thon, tai trắng và dầy, môi hồng răng trắng, tiếng nói như chim yến hót, lời lẽ ôn tồn, phong cách uy nghiêm là tướng sang quý.
-Mắt đen trắng phân minh, thần khí sáng sủa. Giận mà bình tĩnh, không dữ không tục, giọng trong trẻo như chuông vàng là tướng chồng sang con hiển đạt, sống đời quyền quý.
-Trán thẳng, góc trán chân tóc không khuyết hãm, mắt đẹp, phần thịt dưới mắt đầy, tai mọng tròn, hàm đầy, nhân trung dài, bàn tay mịn đỏ hồng, tính tình khoan hòa là tướng giàu có.
-Mặt chữ điền, sắc đen thân trắng (hoặc đen hơn thân mình), chân mày trăng non, răng đều như hạt lựu, ngón tay búp măng, lưng rộng bụng tròn, da thịt thơm tho thì vừa giàu vừa sang.
Tướng pháp tướng tốt ẩn bên trong bao giờ cũng hơn vẻ đẹp bề ngoài.
Phụ nữ “đào hoa diện” có sắc mặt phơn phớt hồng (màu hoa đào) và nét mặt thanh tú thường là sắc đẹp tuyệt mỹ, nhưng người xưa cho là tướng “hồng diện đa dâm” cũng tương tự như người đẹp càng lẳng lơ càng được quí ông cho là đẹp não nùng đều là tướng cách hạ tiện.
Những nét tướng ẩn bên trong gồm có:
1-Đầu vú đỏ tựa chu sa (chu sa là bột sulfit thủy ngân đỏ).
2-Rốn đỏ như chu sa.
3-Da trắng trẻo, bộ tóc đen mượt dài chấm đất, trên một thân hình người đẹp da trắng nhuận với đôi mắt thanh tú, gọi là cách “Rồng đen quấn cột ngọc” (Ô long quyển trụ) là tướng “vượng phu ích tử”. Sách tướng cho rằng người đàn ông dù thất bại cùng cực cũng vẫn phục hồi giàu sang nếu người vợ có tướng này.
4-Thân thể tự có hương thơm (không nước hoa). Đây là tướng cách gọi là “không dắt hoa lan mà tự có hương thơm” (bất đới lan chi tự hương).
Đời Thanh ở vùng Tân Cương có một bộ tộc Hồi giáo do thủ lãnh Hoắc Tập Chiêm cai quản. Vợ Hoắc là Hương Phi nhan sắc diễm lệ, đặc biệt toàn thân tiết ra hương thơm ngây ngất, cao quý,. Vua Càn Long nghe tiếng, rất say mê liền sai hai đại tướng thống lãnh đại quân tấn công bộ tộc đó. Vua Càn Long ra lệnh tránh mọi sát hại, cướp phá và quan trọng nhất là phải bắt sống Hương Phi. Hoắc Tập Chiêm kháng cự nhưng bị phản trắc bắn chết. Quân Thanh bắt được Hương Phi về dâng lên Càn Long. Hương Phi chưa biết chồng đã bị giết nên nàng vẫn mong đợi để gặp mặt chồng. Càn Long rất chiều chuộng sủng ái Hương Phi, vui lòng chờ đợi cơ hội nàng nguôi ngoai và chấp nhận nhưng đã sáu tháng trường, nhà vua vẫn tuyện nhiên không gần gũi được nàng dù chỉ là chuyện nắm đôi tay.
Say mê vẻ quyến rũ, Càn Long thường thừa lúc Hương Phi không hay biết, đứng ngẩn ngơ nhìn ngắm nàng không biết chán. Một bữa, Hương Phi vừa tắm xong hương thơm sực nức làm ông cầm lòng không đặng xông vào chỗ nằm của nàng bị Hương Phi cự tuyệt tàn nhẫn, Càn Long đành lủi thủi đi ra và nói cho nàng biết đừng chờ Hoắc Tập Chiêm nữa, hắn đã chết rồi. Hương Phi từ khi biết tin chồng, ngày đêm khóc lóc, Càn Long càng tìm cách chiều chuộng nhưng chẳng lay chuyển được nàng. Hoàng Thái Hậu biết được chuyện, lo sợ rối loạn hậu cung, đã cho người ám hại nàng, Càn Long nghe tin ngày đêm than tiếc(1).
Người có tướng “bất đới lan chi nhi tự hương” là người cao quí, tao nhã, kiên trinh, đoan chính.
Trường hợp của Hương Phi là sự “anh hoa phát tiết ra ngoài” nên “nghìn thu bạc mệnh…”, chứ không phải thân thể thơm tho là nét tướng xấu đem lại tai họa cho nàng.
5-Đai ngọc quấn quanh eo (ngọc đới yêu vi): tướng “vượng phu ích tử.
Đời Thanh, ở huyện Nam Hải có sĩ tử Hà Nghiêu Luân thi mãi không đậu, nản chí, một thầy tướng bảo Luân:
-Đến vận cưới vợ sẽ lấy người vợ vượng phu ích tử, rồi mới có thể gặp công danh.
Luân thuật chuyện với bạn. Bạn Luân lại là người nghiên cứu tướng học và địa lý nói:
-Năm trước tôi lên tìm huyệt trên núi có gặp một cô gái 17 tuổi, người đen đủi con lão tiều phu nhưng có tướng mạo tốt, tôi để ý thấy khi cô ta cúi xuống bên lườn eo có một thớ thịt nổi lên bọc lấy bụng như cái đai ngọc. Anh lấy cô ta nên lắm.
Luân bằng lòng và nhờ mai mối cưới hỏi cô bé mẹ mất sớm ở với cha ấy tên là Âu Tiểu Muội làm vợ. Quả nhiên từ khi lấy vợ, Luân thi khoa nào đỗ khoa nấy, được bổ làm quan.
Về sau, Hà Nghiêu Luân theo Tăng Quốc Phiên dẹp loạn Hồng Tú Toàn lập nhiều chiến công được phong tướng. Vợ Luân sinh được 3 trai sau này đều đỗ tiến sĩ.
6-”Hai rồng nằm ấp mặt trăng” (song long nhiễu nguyệt) và “Tơ vàng chầu mặt trăng” (kim tuyến triều nguyệt).
Đời vua Quang Tự, Lương Văn Vĩ lúc vinh qui về làng lấy vợ nhờ người bạn rất thân là Trần Như Hải rất tinh thông tướng pháp tìm cho được người vừa đẹp vừa có phúc.
Nhiều nhà giầu sang nghe tin đều cậy mai mối muốn gả con gái cho Vĩ. Từng cô một đều bị Hải chê, người thì mệnh yểu, người thì bạc phước, chẳng bằng lòng ai cả. Hải cho rằng đàn bà trên thế gian vừa đẹp vừa có phúc hiếm lắm, từ xưa đến nay, hồng nhan thường bạc mệnh. Cuối cùng Hải đã tìm ra được một cô gái tướng cách tốt hiềm vì cô ta xấu xí và đương làm tì nữ ở nhà người cô họ của Vĩ, và Như Hải đoan quyết cô ta có một “ẩn tướng tốt” đó là có âm mao thật dài kéo ra đến đầu gối xoăn lại thành từng vòng tròn sách gọi là song long nhiễu nguyệt là tướng “vượng phu ích tử”, nếu Vĩ chấp nhận thì bỏ tiền ra mua về sẽ rõ. Vĩ gật đầu, lập tức sai gia nhân sang nhà người cô họ.
Về sau Lương Văn Vĩ làm đến chức “thái sử hàn lâm” giàu sang có một dinh thự nguy nga và nghiêm mật ở huyện Tân Hội.
Còn tướng “Kim tuyến triều nguyệt” hay Kim tuyến triều âm là tướng bà Lã Hậu, vợ Hán Cao Tổ âm mao dài bảy thước (1 thước Tàu = 1 xích= 10 tấc = 0,23 m) óng ánh như tơ vàng.
Muốn xem được các ẩn tướng này phải là nhà tướng pháp ở mức độ thượng thừa ngày xưa, có lẽ những bí kíp này nay đã thất truyền.
Quan sát tướng mỹ nhân đặc biêt đôi mắt, mắt đẹp có hai dạng đẹp “mị” và “tú”. Mị là nét đẹp mê hoặc còn tú là nét đẹp thanh nhã.
Theo tướng pháp thì mị là chiều chuộng, nũng nịu, vuốt ve, lẳng lơ còn tú là đoan trang, dịu dàng, trong sáng, hiền hòa, nhưng không kém phần hấp dẫn như đôi mắt người “Kỳ nữ” của thi sĩ Đinh Hùng:
“… Những buổi đó, ta nhìn em kinh ngạc,
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly,
Ôi mắt xa khơi! Ôi mắt dị kỳ!
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước.
Thấy cả một vầng đông thuở trước,
Cả con đường sao mọc lúc ta đi,
Cả chiều sương mây phủ lối ta về,
Khắp vũ trụ bỗng vô cùng thương nhớ.”…
Đàn ông thuộc Dương, đàn bà thuộc Âm nên đôi mắt đàn ông phải có thần quang tức ánh mắt có thần mạnh mẽ, ngược lại ánh mắt đàn bà phải hòa hoãn thuần tĩnh, kỵ mắt đàn bà lộ ánh mắt hung dữ khiến người đối diện phải sợ hãi, dấu hiệu của sự khắc sát chồng con, tai họa và cô độc suốt đời.
Nhưng người phụ nữ có ánh mắt yếu đuối, nhát sợ, khiến người ta thương hại thì nếu được yêu chuộng cũng không tránh khỏi bị đàn ông dụ dỗ hoặc phụ bạc.
Chỉ có đôi mắt hoà hoãn hiền thục, toát ra vẻ phúc hậu uy nghi mới được mọi người thân thiện, kính trọng và vị nể. Đây chính là những đặc tính của đôi mắt “tú”.
Tại sao có nhiều người phụ nữ rất đẹp lại làm nghề kỹ nữ, cũng như nhiều minh tinh màn bạc, nhiều người mẫu thời trang nổi tiếng xinh đẹp (không phải nhờ vào mỹ phẩm và thời trang che lấp những khiếm khuyết trên thân thể) lại có cuộc tình sóng gió và cuộc đời bất hạnh?
Đây là trường hợp mà Tướng học cổ thường nói tới là cách cục “thanh trung hữu trọc” (trong cái đẹp có cái xấu). Sau đây là những phá tướng thường gặp ở các mỹ nhân:
1-Vóc dáng xinh đẹp mà thiếu nét uy nghi:
-Mặt đẹp mà tay chân thô kệch.
-Hai gò má quá thấp.
-Môi nhỏ, mỏng.
-Da mặt trắng trẻo mà da cổ, tay chân đen sì.
-Da tuy trắng nhưng quá khô.
-Eo thon mà bụng dưới sệ, rốn thô.
2-Vóc dáng đẹp mà có nét nam tính, hình khắc:
-Mũi to cao quá độ.
-Có lông măng đậm như ria mép.
-Đôi vai quá to, dầy quá mức.
-Chân to hoặc chân cong, tay cong.
-Dáng dấp cứng.
-Ngực ưỡn.
-Môi mỏng miệng rộng.
-Giọng nói đục rè, giọng khàn khàn như giọng đàn ông.
-Hai gò má quá cao (khắc chồng).
3-Lòng không chính:
-Đôi mắt không nhìn thẳng, đong đưa hoặc liếc xéo.
-Ngồi không ngay thẳng, mới tới nơi đã ngồi bịch xuống.
-Cười miệng không cân phân và hở lợi, tiếng cười thô kệch.
-Tiếng cười nghe thô kệch.
-Hay nói bậy, nói xấu người khác.
-Ăn nói không rõ ràng, các âm dính vào nhau.
-Trí kém.
Ngoài ra còn nhiều nét tướng nữa ảnh hưởng đến tướng cách của một mỹ nhân làm thay đổi hoàn toàn số phận họ vì con người là tổng hòa của quá nhiều mối quan hệ, đòi hỏi một cái đẹp hoàn hảo là điều “bất khả” nên người con trai vùng sông nước Nam bộ có cái nhìn thực tế hơn về “người yêu trong mộng” trong mấy câu hát sau đây:
“Một thương em giỏi bán buôn,
Hai thương mái tóc cài gương trên đầu,
Ba thương cặp mắt bồ câu,
Bốn thương môi mỏng, má bầu xinh xinh,
Năm thương giọng nói hữu tình,
Sáu thương trán rộng, thượng đình em cao,
Bảy thương vóc liễu má đào,
Tám thương da trắng hồng hào dễ ưa,
Chín thương sóng mũi dọc dừa.
Mười thương em đẹp mà chưa có chồng”.

TƯỚNG CÁCH VỀ PHẨM HẠNH CỦA MỸ NHÂN

Em về cắt rạ đánh tranh,
Đốn tre chẻ lạt cho anh lợp nhà,
Sớm khuya hòa thuận đôi ta,
Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình
Ca dao

Trong xã hội bùng nổ thông tin hiện đại sự giao tiếp cũng rộng mở, nếu chúng ta biết được một số dấu hiệu tướng học của người đối diện, sẽ dễ dàng phòng ngừa và giải quyết mâu thuẩn, giúp đỡ được mọi người trong cộng đồng. Có thể xác định tính cách của mỹ nhân nếu quan sát và ghi nhận được những nét tướng sau đây:
1) Những nét tướng phản ánh tính cách tốt:
-Sắc mặt vàng đỏ như ráng chiều là có mừng lớn, như mặt trời mới mọc thì vận tốt tới, sắc mặt vàng pha hồng thì mọi việc thuận lợi.
-Bước đi ẩn trọng, đoan trang, người nặng mà chân bước nhẹ nhàng như chiếc thuyền chở nặng xuôi theo dòng nước dễ dàng, là tướng sang cả.
-Ngồi chắc như núi, không cựa quậy, ngó ngoáy, khi đứng lên nhẹ nhàng không uể oải. Ngồi càng lâu tinh thần càng sáng suốt đều là tướng phú quý.
-Ăn chẩm rãi thì phức lộc, ăn ít mà mập là khoan hậu.
2) Những nét tướng phản ánh tính cách xấu:
-Ánh mắt hay liếc ngang (lườm), liếc xéo (nguýt), dù ăn nói lưu loát và dẻo cũng cần đề phòng tính tham.
Mẹ em tham thúng xôi dền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
Em đã bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm (lườm) mẹ hứ (nguýt) mẹ bưng ngay vào,
Bây giờ chồng thấp vợ cao.
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.( Ca dao).
-Khuôn mặt, môi miệng, mũi có vẻ phúc hậu nhưng khoằm nhọn hoắt (mũi chim ưng) tính gian tham, độc ác.
-Người đẹp đẽ mà da thịt lạnh là tướng dâm.
-Cười hở lợi , tính nết không trung thực.
-Đi thường co quắp, lệch lẹo do thiếu khí lực ở xương sống tính hạ tiện; Đi mỗi bước lại cúi đầu xuống thì gian tham. Đi vặn vẹo mình rắn gọi là xà hành, tính độc và nghèo hèn. Đi như chim sẻ nhảy (tước dược) thân phận cay đắng. Đi đầu ở trước chân, ăn hàng hoang phí.
-Ngồi chưa ấm chỗ đã nghiêng nghiêng ngả ngả thì đa dâm và nghèo khổ. Ngồi mà thiếu vẻ cung kính là bất cẩn. Ngồi rung đầu gối là hiếu dâm.
-Ngồi đứng rũ rượi là thần khí đã thoát, sắp chết.
-Vừa ngồi xuống đã thở dài là tướng chia cách chồng hoặc bỏ chồng theo trai. Ông bà ta thường nhắc:
“Ngồi buồn vuốt bụng thở dài,
Nhớ chồng thì ít nhớ trai thì nhiều”.
-Người đẹp mà vừa ngồi xuống đã nói huyên thuyên, hoặc hay chê bai, nói xấu, ác khẩu đều là hạng ganh tị, đố kỵ, không muốn ai hơn mình.
“Ngồi buồn dở ruốc nhau ra
Ruốc ông thì thối, ruốc bà chẳng thơm”. Ca dao
-Ăn vội vả mà ngửa đầu lên là người ngang ngạnh, vừa ngậm đồ ăn vừa nói hoặc ăn uống phát tiếng kêu xì xụp là tướng bần tiện. Ăn mà đổ tung toé là nghèo khổ gian nan. Ăn nhiều mà gầy ốm tính cách lông bông.
-Ngẩng đầu lên thấy toàn sắc xanh, đen thì làm việc gì cũng thất bại. Mặt đen sạm lại là gặp vận bĩ.
A-TƯỚNG CÁCH TỐT
I-TƯỚNG PHÚ QUÝ
Trong xã hội nông nghiệp các nước Á Đông, cuộc đời người phụ nữ được xem phụ thuộc vào số phận người chồng, nên trong tướng pháp xem thành đạt của chồng con là một phần lớn phú quý của người phụ nữ, thậm chí người con gái giống cha được cho là tướng tốt như trong câu ca dao sau đây ông bà ta đã có kinh nghiệm:
Con gái giống cha giàu ba họ,
Con trai giống mẹ tệ ba đời.
Qua chiêm nghiệm một số người thân, chúng tôi nhận thấy nhận xét này cũng có phần đúng.
Theo các sách tướng cổ thì người phụ nữ có những nét tướng sau (càng nhiều càng tốt) là tướng phú quý.


1-Tóc đen óng chuốt, sáng, chân mày thanh có thần khí.
Người phụ nữ da trắng trẻo, bộ tóc dài chấm đất, đen mượt gọi là cách “Rồng đen quấn cột ngọc” (Ô long quyển trụ) là tướng rất giàu có.
2-Trán tròn không thấp không cao, cổ dài.
3-Mặt đầy đặn, tròn như trăng rằm, quyền, trán không lộ, sắc hồng nhuận, sung sướng đến già.
4-Mắt đen trắng phân minh, cái nhìn sáng sủa, bình tĩnh, ngay thẳng và mạnh mẽ nhưng hiền hòa, khiến người đối diện phải kính nể.
5-Sống mũi thẳng và dài, ngay ngắn, cánh mũi cân xứng đầy đặn. Mũi phối hợp với lưỡng quyền thành một khối vững vàng.
6-Mang tai nảy nở, nhưng không bạnh ra phía sau.
7-Nhân trung dài, ngay ngắn, rõ ràng.
8-Miệng nhỏ, môi hơi dày và có sắc hồng tự nhiên,
9-Cằm tròn, đầy và vững vàng.
10-Tay đầy đặn, hồng hào.
11-Eo tròn, bụng tròn, lưng dầy là thân hình phúc lộc.
12-Thân thể có mùi thơm tự nhiên.
13-Ngồi chắc như núi, dung nghi đẹp đẽ.
14-Tướng đi chẫm rãi, khoan thai.
15-Tiếng nói âm hưởng trong trẻo, hơi dài.
16-Ngón tay thon, thẳng, chỉ tay mịn và rõ.

II-TƯỚNG VƯỢNG PHU ÍCH TỬ
Ý nghĩa vượng phu ích tử là nói về mặt mạng vận gia đình dù về nhà chồng với hai bàn tay trắng, hoặc cả hai khởi nghiệp còn nghèo, nhưng người phụ nữ sẽ mang lại nhiều may mắn, thành đạt cho chồng về sự nghiệp và đường con cái. Người phụ nữ vượng phu ích tử cần có những nét tướng đặc biệt sau:



1-Thân hình trên dưới đều đặn, xương thịt tương xứng.
2-Ngũ quan, lục phủ cân xứng dễ nhìn.
3-Mặt tròn, đầy đặn, xinh xắn. Tóc đen, đôi má ửng hồng, da dẻ trắng hồng tươi nhuận (trắng có pha chút hồng và vàng). Tiếng nói thanh như chuông vàng và từ tốn. Thúy Vân thuộc mẫu người “vượng phu ích tử” được Nguyễn Du mô tả có các nét tướng này:
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang,
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da…”
Xem tướng gương mặt phụ nữ đầy đặn phúc hậu chủ yếu ở nét cân phân, trong trường hợp người gầy thì khuôn mặt không tròn đầy được nhưng cần xương hai gò má không lộ, mặt mũi không hốc hác là tốt rồi.
4-Mắt dài, đen trắng phân minh, sáng sủa, phối hợp với chân mày thanh tú. Ánh mắt trong sáng, nhìn chính trực.
5-Mũi ngay ngắn thuộc loại mật treo (huyền đỡm tỵ) hoặc dọc dừa, tỵ lương và chuẩn đầu và tỵ lương sáng sủa, phối hợp với lưỡng quyền cân xứng vừa vặn.
6-Tai trắng và dầy, trán rộng và tròn trịa.
7- Lúc giận không dữ dằn, thô tục, lời lẽ ôn tồn.
8- Răng trắng và đều, cười tươi không lộ chân răng.
9- Bàn tay mịn đỏ hồng, ngón tay búp măng, lòng bàn
tay dầy và ấm, chỉ tay mịn và rõ. Ở cổ và lòng bàn chân có nốt ruồi.
10-Rốn hoặc khu vực dưới rốn có nốt ruồi son và xung quanh khu vực bụng có thịt nổi như một vành đai là tước cách sinh quý tử bất kể diện mạo đẹp hau xấu.
11- Xương lẳn, da nhuận.
12-Đi đứng khoan thai, vững vàng, nằm ngồi đoan chính.

III-TƯỚNG CAO QUÝ
Người phụ nữ cao quý diện mạo không hẳn xinh đẹp, đôi khi còn dưới mức trung bình, nhưng hầu hết đều toát ra vẻ sang trọng quý phái.
Các sách tướng đã đức két một số nét tướng phụ nữ cao quý như sau.



1-Tóc tốt đẹp: đen mịn, dài, mượt óng ả, không gẫy khúc cong queo. Tóc không xâm phạm vào trán làm hẹp trán.
Đàn bà tốt tóc thì sang.
Đàn ông tốt tóc tổ mang nặng đầu….
…Chồng yêu cái tóc nên dài,
Cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn. (Ca dao).
2-Trán tròn, cao trung bình, sáng sủa không có vết sẹo, văn vết.
3-Chân mày dài, thanh nhã có thần khí.
4-Ánh mắt sáng sủa, ngay thẳng và mạnh mẽ.
“Những người con mắt có ngời,
Mày dài quá mắt miệng cười có duyên,
Cả đời sung sướng như tiên,
Có chồng có lộc có quyền giàu sang. (Ma Y TTDC).
5-Vành tai đầy đặn và hơi hồng, dái to lớn và trắng hơn da mặt.
6-Mũi thẳng và lưỡng quyền không cao không thấp phối hợp cân xứng với mũi.
7- Cổ dài, tròn, da mịn.
8-Mặt cân xứng về xương và thịt, miệng nhỏ, môi hồng, răng trắng và đều, ngay ngắn, không lộ, không úp vào trong.
9-Giọng nói trong và ấm, giọng điệu thong thả nghiêm trang.
10-Ngón tay thon và thẳng, chỉ tay mịn và rõ.
11-Ngồi ngay ngắn, chắc như núi, nhưng đứng dậy nhẹ nhàng không uể oải, dung nghi nghiêm trang.
12-Đi đứng khoan thai, không uốn éo như rắn bò. Lối đi catwalk trên sàn diễn là theo phong cách phương Tây chỉ áp dụng để trình bày thời trang, không phải lối đi đứng đời thường.

IV-TƯỚNG TRINH THỤC
Văn hóa Á Đông đặc biệt coi “chữ trinh đáng giá ngàn vàng” của phụ nữ và xem đây là đức tính tối cần thiết cho hôn nhân và hạnh phúc gia đạo. Văn học bình dân nước ta luôn chú trọng đến trinh tiết của nữ giới:
“…Gái thời giữ lấy chữ trinh,
Siêng năng chín chắn trời dành phúc cho…”Hoặc:
“Nam trọng tài năng nữ hằng trinh khiết,
bậu dứt qua rồi, sau tiếc thương qua”. Hoặc:
“Còn trinh như tượng phết vàng,
Hết trinh như tổ ong tàn mắc mưa”.
Vậy những nét tướng nào của người phụ nữ được xem là có đức tính trinh thục ? Một số sách nhân tướng cổ liệt kê các đặc tính sau:



1-Trán tròn, không cao, không thấp, sáng sủa, không khuyết hãm.
2-Cặp mắt đối xứng qua sơn căn, đen, sáng sủa, ánh mắt ôn hòa, thanh tĩnh, không liếc ngang, liếc dọc.
3-Chân mày đẹp thuộc các dạng như lá liễu, mày thanh,
mày trăng non, con tằm… phối hợp với cặp mắt tạo một phong thái được kính nể.
4-Môi hồng, răng đều và trắng.
5-Mũi ngay ngắn, không trơ xương, không quá cao.
6-Người thon gọn, bàn tay đỏ chót.

“Người nào mình hạc xương mai,
Bàn tay đỏ chót có tài thông minh.
Đàn bà được một tánh trinh.
Đàn ông như vậy thông minh hơn người”. (MYTTDC).
7-Ngồi chững chạc đoan chính, không động đậy, ngó ngoáy,
8-Đi đứng khoan thai, thân hình thẳng, không nghiêng lệch.

VI-TƯỚNG CẦN KIỆM
Từ ngàn xưa vai trò người đàn bà về tề gia nội trợ được xem cực kỳ quan trọng cho sự ổn định xã hội vì gia đình là tế bào nền tảng cấu thành đất nước. Kinh nghiệm cho thấy dù người chồng có giỏi kiếm tiền mà gặp người vợ hoang phí cũng dễ phá sản nên ông bà ta thường bảo “nam cần nữ kiệm” mới xây dựng gia đình hạnh phúc.
Thông thường người phụ nữ giỏi giang trong lao động cũng thường là người cần kiệm mà câu ca dao thời cận đại cũng nói tới:
Một yêu em cố tăng gia
Hai yêu em có đàn gà đầy sân
Ba yêu làm cỏ bỏ phân
Bốn yêu sớm tối chuyên cần tưới rau
Năm yêu chăm chỉ bắt sâu
Sáu yêu nương sắn, giàn bầu chuồng chim
Bảy yêu đàn lợn mới thêm
Tám yêu dãy chuối lại kèm rặng khoai
Chín yêu khóm mía cao cao
Mười yêu cần kiệm dân giàu nước sang.
Đàn bà cần kiệm thường có những nét tướng sau:



1.Tóc đen mượt, chân mày thanh nhẹ nhàng, màu xanh đen.
2.Mắt có tròng đen tròng trắng phân biệt rõ ràng, ánh
mắt mạnh mẻ nhưng ẩn tàng không lộ tia nhìn dữ dằn.
3.Thức khuya, dậy sớm mà không mệt mỏi thần sắc thư thái.
4.Nói năng từ tốn, cử chỉ cẩn trọng, không than thở oán hận, không cạnh tranh hơn thua với người về công việc, về sắm sửa, về danh vọng.
5.Làm việc năng suất cao, là người vợ tháo vát, đảm đang.
“Nhà khó cậy vợ hiền,
Nước loạn nhờ tướng giỏi”. (Ca dao)
VII-TƯỚNG PHÚ TÚC
Tướng đàn bà no đủ thường có các đặc điểm sau:



1.Khuôn mặt đầy đặn và hồng nhuận (không phải màu ửng hồng của trái đào gọi là đào hoa sắc), không có văn vết, tàn nhang, nốt ruồi.
2.Chân mày thanh, ánh mắt sáng hiền hòa.
3.Tai dày và cứng, thùy châu rõ ràng, mang tai nảy nở nhưng không bạnh ra phía sau.
4.Mũi thẳng và dài, dịa các tròn đầy và vững, môi hơi dày màu sắc hồng hào tự nhiên.
5.Lòng bàn tay mềm mại, dầy và hồng hào.
6. Bụng tròn lưng nở.
7.Thân thể có mùi thơm tự nhiên.
8.Giọng nói êm dịu, từ tốn. Tướng đi chẩm rãi ngay ngắn.

VIII- TƯỚNG NHIỀU CON
Thiên chức của người phụ nữ trong xã hội nông nghiệp ngày xưa là sinh được con trai để nối dõi tông đường, muốn được như thế họ phải có khả năng sinh được nhiều con vì quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” và “đa thọ đa nam đa phú quý”. Ngày nay xã hội càng ngày càng công nghiệp hóa quan niệm trên đã lỗi thời nhưng người phụ nữ cũng cần có khả năng sinh đẻ để giữ ổn định giống nòi.
Những bộ vị quan trọng để suy đoán khả năng sinh con của người phụ nữ là:



1.Mắt có tròng đen tròng trắng phân minh không có gân máu, mi mắt dài, ánh mắt sáng sủa, lệ đường (hay ngọa tàm) đầy đặn không có nốt ruồi, tàn nhang hay lằn vết.
2.Mắt không thuộc các dạng tam tứ bạch, mắt heo, mắt dê, mắt đào hoa.
3.Nhân trung sâu và thẳng, trên nhỏ dưới rộng, chỉ tay rõ và hồng hào.
4.Miệng đều đặn, môi có nhiều vằn.
5.Vú lớn, núm vú sậm màu, không lệch lạc.
6. 6. Mông lớn tương xứng với thân người.
Theo nguyên lý “nam (dương) tả nữ (âm) hữu”, một vài nhà tướng học cho rằng có thể quan sát hình dạng trai để suy đoán con đầu lòng là trai hay gái, nếu tai trái của người mẹ mà dày hơn tai phải thì sẽ sinh con trai, còn tai phải dày hơn thì sẽ sinh con gái đầu lòng.

IX-TƯỚNG TỰ DO PHÓNG KHOÁNG
Phụ nữ không có thiên hướng nội trợ, không thích chăm lo gia đình thường có những nét tướng sau:



1.Chân mày đậm và khá lớn, mọc xa nhau và mọc cao cách xa mắt.
2.Mắt tròn, lớn, ánh mắt cứng cỏi.
3.Miệng rộng, da mỏng.
4.Tính thích cạnh tranh, đua đòi, ưa được người xu nịnh, cung phụng, dáng cao và đi nhanh nhẹn.
5.Khéo ăn nói, giao thiệp rộng và thích tự quyết định.
6.Coi nhẹ tiền bạc, không có khiếu và không thích về săn sóc con trẻ và bếp núc.

B-TƯỚNG CÁCH XẤU

I-TƯỚNG PHỤ NỮ ĐAM MÊ NHỤC DỤC
Tình dục của con người là một hoạt động sinh lý bình thường, là hợp đạo lý điều hoà Âm Dương như Kinh Dịch có nguyên lý “một Âm một Dương gọi là Đạo” (nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo) và sách Tố Nữ Kinh đời Hoàng Đế cũng cho rằng: “Vợ chồng ăn ở là việc mở đầu cho quần luân cũng là điều trước nhất của tạo hóa. Nam nữ giao tiếp để cho Âm Dương được thuận vậy nên Khổng Tử ca tụng việc hôn nhân là trọng đại ( Phu phụ cấu dĩ vi quần luân chi khải, diệc tạo hóa chi đoan. Nam nữ giao tiếp nhi Âm Dương thuận như cố Trọng Ni xưng hôn nhân chi đại).
Ngược lại người quá chú trọng nhục dục làm mất quân bình , đảo lộn cái trật tự của đời sống khiến đạo thành loạn nên gọi họ là kẻ tiện dâm, đa dâm.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Tài Lục thì tiện dâm (fornication-thông dâm) có nhĩa là một ý thức thấp đối với vấn đề giao tiếp nam nữ và tuỳ tiện đối với việc làm tình.
Người phụ nữ đam mê nhục dục có những nét tướng đặc biệt khác với người thường.



a)Hình dáng:
1.Da trắng như phấn hoặc da trơn nhờn như dầu, hoặc da bóng bẩy, trơn láng, hoặc da nhăn nheo không phải do gầy và già yếu. Thịt nhuyễn như bông (nhục nhuyễn như miên). Tú Bà qua ngòi Nguyễn Du có màu da mất sắc, không tươi thắm có thể do hành lạc hoặc nhiều phấn son:
“…Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?..
2. Đàn bà đa dâm mặt xanh xanh, mắt hay liếc trộm thì ở trong nhà cũng mất trinh. Đây là hạng phụ nữ mà ông bà ta thường nhắc:
“Quét nhà long mốt long hai
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà”.(Ca dao).
3.Đầu lớn tai nhỏ như tai chuột, hoặc đầu lớn ít tóc hoặc đầu lệch trán hẹp, mắt đong đưa thì phản bội chồng con.
4.Trán vuông góc ưa ăn trộm ái tình, lấy chồng thì hay bỏ chồng để chịu cay đắng cực khổ.
5.Đàn bà mặt vênh hoặc mặt trắng pha sắc hồng nhạt gọi là đào hoa sắc hoặc mặt trắng có tàn nhang hoặc mặt nhọn trán thót hoặc mặt từng ụ thịt, mặt dài mắt tròn hoặc mặt to mũi nhỏ, mặt ngâm đen, tóc rậm, ánh mắt ướt sắc đều đa dâm. Các cô gái quê gò má hồng hoa đào dễ làm động lòng các chàng trai:
“Thấy em gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ, anh bồng anh hôn.( Ca dao).
Phụ nữ có mắt Đào hoa kết hợp mày lá liểu. Sách “tướng lý hành chân có câu phú:
“Nữ nhân đào hoa nhãn
Tu phòng liễu diệp mi
Vô môi năng tự giá,
Nguyệt hạ dữ nhân kỳ”.
(Đàn bà mắt Đào hoa lại thêm chân mày Lá liễu là loại trăng hoa đáo để thường hẹn nhân tình dưới bóng trăng). Ma Y thần tướng diễn ca của Tâm Liêm cư sĩ có câu:
“Gái mà hai má hồng hồng,
Con mắt điên đảo có chồng theo trai”.
6.Chân mày nhỏ, hẹp, uốn cong dài quá mắt hoặc chân mày nhăn khi mắt nhắm. Mắt lớn và sáng. Ánh mắt ướt át. Đuôi mắt đổ xuống.
7.Mắt lồi hoặc mắt đục lờ như mắt dê, con ngươi nhỏ như mắt tôm hoặc mắt ba bốn phía là tròng trắng.
” Đôi tròng trắng bạc quá ư,
Nam nhơn dâm phụ, nữ hoà gian phu”.(MYTTDC).
Lệ đường (dưới mắt) co lằn xếp hay gần màu xanh xám hoặc hồng chạy về đuôi mắt là hạng phụ nữ ưa ái ân vụng trộm.
8.Ấn đường và mũi hãm, hoặc mũi hếch lên trời, góc miệng có vết, môi luôn mấp máy, miệng lớn mà khoé miệng đi xuống hoặc quanh mép miệng sắc da xanh xám tự nhiên, không phải vì bệnh.
9.Phía dưới mắt có nốt ruồi đen nổi rõ, hoặc mắt không khóc mà trông lúc nào cũng có vẻ ướt.
10.Ngực ưỡn, vai so, eo nhỏ, đít cong. Đầu vú chỉ xuống đất, rốn lồi vị trí thấp.
11.Nhân trung gãy khúc đến già vẫn rạo rực với điều dâm, nhất là lại có tướng đàn ông thì dâm loạn nổi tiếng khắp nơi.
12.Môi trắng mà mỏng hoặc môi xanh xám hoặc môi cong, lưỡi nhọn, răng chuột hoặc răng quỉ (mọc nghiêng ngả) hoặc chân răng đen xám.
13.Đùi bạc eo cong (bạc thoái, phong yêu).
14. Rụt cổ lè lưỡi, hoặc cổ nhỏ mày nhăn.
15.Âm hộ thiên về phía sau hoặc vô mao hoặc âm mao như cỏ đều dâm tiện.
16.Thân gầy như liễu, hoặc thân dài cổ ngắn hoặc mình con rắn, ăn như chuột hoặc eo lệch ngón tay ngắn trán thật rộng tóc mai thật rậm.
17.Lưng cong bụng thót, hoặc lưng ong hoặc thường ưỡn lưng thở dài.
b)Cử chỉ:
1.Ăn uống không biết no chán (ẩm thực vô tận).
2.Người phụ nữ hút thuốc lá, có thói quen thở khói rất mạnh là kẻ hiếu dâm.
3.Ngủ mộng rên la (thụy mộng thường đề).
4.Nói chuyện thường liếm mép hoặc nhắm mắt lại rồi mới phát âm, nói liến thoắng là người có khuynh hướng gian dâm, dễ bị quyến rũ vào đường sắc dục.
5.Nói một câu đứt ba đoạn (nhất ngôn tam đoạn), hoặc có thói quen khua đầu lưỡi dưới răng.
6.Không cười mà thường lộ chân răng. Chưa nói đã cười hoặc tự nói một mình (tự ngôn tự ngữ).
7.Môi luôn luôn mấp máy khi không nói.
8.Đàn bà lúc nói chuyện hay chỉnh lại áo quần hoặc tay vân vê tà áo và cúi mặt, răng gậm nhấm thì đa tình.
“Anh thương em thì anh để dạ,
Chứ gái đa tình chắc em chả thương anh”.(Ca dao).
9.Hay cười nụ, cúi đầu liếc mắt. Tú Bà dạy Thúy Kiều cách cười và liếc mắt làm cho khách say mê:
…”Khi khoé hạnh, khi nét ngài,
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa”…
10.Nhìn ai cúi mặt liếc ngang lại hay ngoái cổ hoặc trông lén nhìn trộm hoặc hay xoa hàm, hay cắn móng tay.
11.Lúc đi đầu nghiêng về trước cả thân mình.
12.Bước đi uốn éo như rắn (xà hành), nhún nhảy như chim sẻ hoặc đi hay ngoái cổ lại là kẻ hiếu dâm.
13.Đi như ngỗng như vịt (nga hành áp bộ).
14.Ngồi không yên (tọa bất an ổn) hoặc đứng nghiêng ngả, hoặc đi đi ngồi ngồi không yên chỗ gặp ai cũng vơ làm chồng (hành hành tọa tọa vô đa định, đáo xứ phùng nhân tiên thị phu).
15.Tính tình hay thay đổi (tính tình đa biến).
16.Cử chỉ dễ dãi lẳng lơ nũng nịu là hạng phong trần (gió bụi), nếu không ở lầu xanh thì cũng làm hầu thiếp.
Cần phân biệt tính chất nặng nhẹ của mỗi tướng theo nguyên tắc tướng hiện lên qua thái độ cử chỉ bao giờ cũng nhẹ hơn tướng hiện qua bộ vị trên thân thể.
Những nét tướng trên theo quan niệm đạo lý không có cùng giá trị, có những cá tính có thể bỏ qua nhưng cũng có những cá tính không thể chấp nhận được. Tình dục không phải hoàn toàn xấu mà còn tuỳ thuộc từng người, từng hoàn cảnh. Đặc điểm này cần phải quan tâm để nhận định đúng đắn cá tính người phụ nữ, hoặc có thể chế ngự hay hướng dẫn họ tuỳ ý muốn.
Cũng cần lưu ý là người phụ nữ đam mê nhục dục chưa hẳn họ có cơ hội thực hiện. Có khi chỉ là tâm trạng trót nhở của người phụ nữ không phải trăng hoa như trong các câu ca dao sau đây:
“Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đông vơi đầy”.
Chỉ khi nào họ có hành vi liều lĩnh táo bạo như thế này mới là có thói trăng hoa:
“Chơi cho thủng trống long chiêng
Rồi ta sẽ lại lập nghiêm lấy chồng,
Chơi cho thủng trống long hồng
Rồi ta sẽ lại lấy chồng lập nghiêm.
Người phụ nữ đã thoả mãn tính trăng hoa của họ sẽ có những dấu hiệu:
a)Đường vạch ngang màu đỏ (hoặc hồng) hiện lên ở nhân trung nếu người nữ chìm đắm trong hoan lạc nhục dục. Đường này nhỏ như tơ nhện, phải tinh mắt lắm mới thấy.
b)Mắt tam bạch: Người đàn bà bình thường không có loại mắt này, nhưng sau một thời gian hành lạc quá độ, tròng đen thu hẹp dần, và tròng trắng bao bọc xung quanh
thành mắt tam bạch tạm thời.
c)Lệ đường có màu xanh đen: bình thường phía dưới hai mắt không có màu này, nhưng vì giao hoan đầy lạc thú, những chất tiết tình dục ra quá nhiều thì bộ vị này thường biến thành màu xanh đen.
d)Sơn căn và Ngư vỹ đột nhiên có màu xám đen ở hai bên rõ rệt hơn lúc bình thường.

Lưu ý: Cần phân biệt khí sắc xanh hoặc đen hiện lên ở các bộ vị trên có thể do bệnh hoạn hoặc điềm báo những chuyện không tốt xảy ra (xem lại mục Khí sắc ở Chương trước).
Người đàn bà khi đã có cơ hội thỏa mãn tính trăng hoa họ rất liều lĩnh có thể dẫn đến hành vi giết chồng để theo tình địch. Chàng trai thôn dã này than thở:
“Con cua anh không sợ mà anh sợ con còng.
Đấng anh hùng anh không sợ mà anh sợ gái hai lòng hại anh”. (Ca dao).
Thật ra con cua cái mới đáng sợ! Một cụ bà “lão nông tri điền” Nam bộ dùng câu chuyện ngụ ngôn này để giáo dục con cháu: “Con cua cái khi lột vỏ cơ thể nó yếu ớt nên con cua đực bạn tình luôn canh gác ngoài cửa hang để bảo vệ cua cái, có nhìn thấy các cua cái khác đi ngang thì cũng liếc mắt đưa tình nhưng không chạy theo, ngược lại khi con cua đực lột vỏ, con cua cái canh ngoài cửa hang hể thấy chàng cua đực nào đi ngang qua là cua cái vào hang cắn chết cua đực ngay để chạy theo bạn tình mới”, bà cụ kết luận “khi đã ngoại tình người đàn bà thường tàn nhẫn hơn người đàn ông ngọai tình! Không biết có đúng chăng?
II-TƯỚNG HUNG DỮ
Phụ nữ hung dữ, mạnh bạo thường có những dấu hiệu sau đây:



1.Thân hình kệch cỡm hoặc thân dài.
2.Tóc cằn cỗi và lơ thơ.
3.Mặt đen, hoặc mặt méo xẹo, chân mày thô.
4.Mắt nhỏ ty hí như mắt lươn, hoặc mắt lộ tứ bạch mà lộ hung quang (ánh mắt lộ vẻ hung dữ).
5.Miệng thô hoặc miệng túm, môi hở lộ răng.
6.Hai gò má cao và lộ, yết hầu lộ.
7.Tay chân thô hoặc chân tay có nhiều lông rậm như đàn ông. Ngón tay thì múp mà quá ngắn.
8.Giọng nói khô khan, tiếng nói đục rè như tiếng phèng la bể hoặc giọng nói đớt như trẻ con mới tập nói.

Ma Y Thần tướng Diễn ca cũng có nói về tính cách đàn bà hung dữ.
Người nào tướng dữ tướng hung,
Gái mặt méo xẹo hiếu trung bao giờ.
Dầu không tai nạn lúc tơ
Lớn lên đói rách thất thơ ngoài đường.
Và:
Đàn bà nói giọng khao khao,
Tóc mây dợn sóng hỗn hào như yêu…
Người nào tròng mắt nháy sao,
Cái miệng quai sách hỗn hào như tinh.

III-TƯỚNG KHẮC PHU VÀ SÁT PHU
Cần phân biệt hai mức độ khắc phu và sát phu.
Khắc phu: xung đột vợ chồng gây sóng gió trong gia đình, làm cho chồng lụn bại, đưa đến chia lìa.
Sát phu: gây ra sự hung hiểm cho người chồng về sinh mạng, có thể bệnh hoạn hoặc chết.
Theo nhà tướng số Trung Hoa Tề Đông Dã thì tướng khắc sát phu mạnh nhất là ở tiếng nói, thứ đến là mũi và hai gò má (lưỡng quyền) rồi sau nữa mới đến các bộ vị hoặc ám tướng khác.
Người phụ nữ có các dấu hiệu sau đây được tướng học cho là khắc sát chồng:



a)Khắc phu:
1.Đầu tròn như quả cầu lớn, trán rộng lưng dầy, tai phản, môi đỏ, tinh thần sáng suốt, khắc một đời chồng phá gia một lần rồi sau mới có y lộc.
2.Tóc cứng như rễ tre hoặc trơ trẽn không có sinh khí.
3.Mặt dài mà trán cũng dài, mày thô miệng rộng, tính nóng nảy.
4.Trán vuông hoặc trán cao, lệch, hai phần nhật, nguyệt giác nổi cao và hướng lên hoăc trán hẹp nhọn hoặc trán có vết sẹo hoặc vằn trán lộn xộn ngay từ thời niên thiếu, hoặc trán lồi cổ ngắn, hoặc trán cao mặt hãm.
5.Mày thô, mày lớn cao và đậm hoặc chân mày thưa, lông mày ngắn và vàng.
“Gái mà lòng dạ lẳng lơ,
Chơn mày rậm rạp, ngọc cơ hồng hồng.
Có chồng mà lại giết chồng,
Hình đi như rắn bụng trung bao giờ”.(MYTTDC).
6.Chân mày thưa và có vẻ như co rút lại, đầu mày và thân mày bằng nhau thay vì phần thân gần đuôi mày phải lớn.
7.Ấn đường có một lằn sâu có một lằn sâu chạy dài lên trán.
8.Mắt nhỏ và dài mà lồi.
9.Mắt đỏ ngầu hay vàng ệch là nhà nghèo mạt khắc chồng con, lưu lạc tha phương, có thể chết vì tự ải, tự trầm hoặc vì sinh đẻ khó.
10.Sơn căn có nốt ruồi.
11.Lệ đường có khí sắc xanh dù không bệnh tật. Dưới mắt thịt tiêu khô hoặc có vết nhăn (phụ nữ trẻ và trung niên).
12.Hai mép miệng và hai pháp lệnh đều có nốt ruồi.
13.Cổ ngắn, tóc rậm, xương lưng xương sườn lộ, chưa ra khỏi khuê phòng đã khắc phu.
14.Sắc da mặt thô xạm như màu đất.
15.Phụ nữ có dáng đàn ông, xương cốt thô, tính lạnh lùng cứng rắn là tướng khắc chồng, không con cái.

b)Sát phu:
1.Giọng nói như tiếng của đàn ông, hoặc oang oang như sấm động, hoặc âm thanh chói tai. Ông bà ta thường nói:
“Đàn bà lanh lãnh tiếng đồng,
Một là sát chồng, hai là hại con”.(Ca dao).
2.Xương lộ thô. Lưỡng quyền cao. Mặt lớn chiều ngang mà lại có tiếng nói chát chúa như tiếng kim khí va chạm nhau khiến người nghe khó chịu.
3.Mũi hếch và thấp, mắt tam hoặc tứ bạch hoặc hình tam giác và lộ ánh mắt dữ dằn là tướng đại hình khắc và yểu.
4.Đầu to trán lớn, mặt xấu, xương gò má vừa thô vừa lộ, nổi cao và nhọn như chỏm núi.
Đàn bà xương má nổi cao
Buồn chồng, phòng vắng biết bao nhiêu lần.(Ca dao).
5.Bộ vị Niên thượng, Thọ thượng trên sống mũi nổi gân máu.
6.Mũi hếch, tai khuyết hãm, chân mày thô và mắt có tia máu chạy từ tròng trắng ăn lan qua tròng đen đến con ngươi ( thuật ngữ tướng học gọi là xích mạch xâm dòng).
7.Đầu mũi nhọn, trán lệch, môi cong, xương lộ, răng lộ, hầu lộ, tóc khô cháy, long cung khuyết hãm là tướng phá bại mọi nhà, khắc sát chồng.
8.Mắt có sát khí hoặc mắt lớn mà lồi (không phải do bệnh basedow).
9.Môi mỏng, mắt đỏ đục, đầu ít tóc, thân nhỏ, chân tay lớn, tinh thần sát phạt là tướng ở nhà làm hại cha, xuất giá sát phu, cô độc một đời.
10.Thân thể đẫy đà trông oai vệ, trán có vệt ngang, tiếng nói đàn ông là tướng sát nhiều chồng. Tú Bà qua mô tả của đại thi hào Nguyễn Du cũng thuộc dạng này:
…”Thoắt trông nhờn nhợt màu da,
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao?
Trước xe lơi lả han chào…”
11. Chân thẳng đuột, khẳng khiu:
Đàn bà chân thẳng ống đồng
Khó con mà lại sát chồng, nguy nan. (Ca dao).
Sự khắc sát còn tùy thuộc vào vận thế bản thân người chồng, nếu các bộ vị hình tướng, tâm tướng của người chồng tốt đẹp nhất là cung Thê Thiếp trên khuôn mặt hoặc trong lá số Tử Vi tốt thì mức độ khắc sát giảm thiểu rất nhiều.

TƯỚNG LƯỜI BIẾNG
“Ở đời ai cũng phải làm,
Chăm thì sung sướng lười cam chịu hèn”.
Ca dao
Kinh Thánh có nói đại ý “Thương đế lúc tạo ra loài người có bảo các ngươi phải đổ mồ hôi mới kiếm được bát cơm”, còn ông bà ta thường nói: “Người lười chứ đất không lười”. Trong xã hội nông nghiệp xưa ông bà ta thường nhắc nhở con cháu:
Đàn bà không biết nuôi heo là đàn bà nhác
Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư. (Ca dao).
Vậy người đàn bà biếng nhác thường có những nét tướng ra sao? Cổ nhân thường nêu lên những đặc điểm:



1.Tóc nhiều, thô, chân mày thô và giao nhau.
2.Mắt lúc nào cũng lờ đờ như ngái ngủ.
3.Mắt lớn hơi lồi (không phải do bệnh Basedow), tròng đen tròng trắng không phân biệt rõ ràng, ánh mắt luôn luôn có vẻ sợ sệt ngơ ngác như mắt hươu nai.
4.Mắt nhỏ, tròn, đen trắng bất phân minh hoặc trắng dã, ánh mắt tối sầm hoặc mắt như khiếp sợ.
5.Sống mũi dẹp, sơn căn gãy.
6.Tay chân mềm yếu. Đi chân kéo lê trên mặt đất như không nhấc nổi chân.
Đàn bà yếu chân mềm tay
Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm. (Ca dao).
7.Ưa trang điểm. Nói rụt rè như có gì mắc ở cổ.
“Vốn tôi có máu đau hàm
Cơm ăn thì đỡ việc làm thì đau”.(Ca dao).
8.Ham ăn, ham ngủ, hoặc đánh bạc, thích rong chơi,
“Nhà giàu ham mần (làm) nhà bần (nghèo) ham ăn”.Ông cha ta thường khuyên nhủ con cháu:
”Thói thường gần mực thì đen
Anh em bạn hữu phải nên chọn người
Những người lêu lổng chơi bời
Cũng là lười biếng ta thời tránh xa”

TƯỚNG KHỐN KHỔ
Thế nào là tướng khốn khổ?



1.Đầu xù, tóc xoắn, mặt cáu bẩn
2.Mặt lúc nào cũng có vẻ sầu thảm.
3.Trán khá hẹp và thấp do tóc mọc lấn xuống trán.
4.Chân mày giao nhau áp mắt hoặc chân mày lưa thưa hình chữ nhất (? ) nằm ngang hoặc chân mày nhỏ , mắt lớn phần nhiều nghèo khổ.
5. Tai ngắn nhỏ có sắc đen.
6.Sơn căn thấp gầy. Tròng mắt vàng lạt có gân máu. Lệ đường khô khan.
7.Mũi hẹp lệch và nhọn gãy khúc , đầu mũi ít thịt.
8.Miệng rộng như quai sọt. Môi quá dày, hơi thở hôi hám.
9.Mặt thường ngửa lên trời, dáng dấp có vẻ cứng rắn giống đàn ông.
10.Tiếng nói nhỏ và khàn khàn, hoặc giống giọng đàn ông.
11.Ngồi hay rung đùi, thân lắc lư. Đi như rắn trường chim nhãy.

12.Cằm nhọn cùng với má hóp, trán hẹp suốt đời làm công.
Ma Y thần tướng diễn ca cũng có các câu:
…Đàn bà gương mặt buồn hiu
Có gân trên trán phá tiêu gia tài…
…Ra đi chân bước cứng còng,
Rùng vai lắc chuyển động trong tới ngoài.
Là người bần tiện hình hài,
Mãn đời thì cũng đi vay của người…

TƯỚNG HIẾM CON
Theo luân lý phong kiến, người phụ nữ không sinh đẻ chịu nhiều đánh giá hơi bất công như “cây cao không trái, gái độc không con”, hoặc:
“Có chồng mà chẳng có con
Khác nào hoa nở trên non một mình”.
Ngày nay khoa học tiến bộ, người phụ nữ hiếm con vẫn có thể sinh con nhờ thụ tinh nhân tạo, nhưng những tướng cách hiếm con cũng cần lưu ý vì những liên hệ với tình trạng sức khoẻ thể chất không được tốt. Sách “Tướng lý hành chân” có viết: “Phụ nhân chi khí thịnh, huyết vượng nhi nhũ đa, khí suy huyết khô nhi nhũ thiểu” (Đàn bà khí thịnh, huyết vượng nên đôi vú lớn, khí suy huyết khô nên đôi vú nhỏ ).
Những tướng cách hiếm con gồm có:



a)Thân hình:
1.Da mỏng xương quá ít, thịt khô.
2.Thịt nhiều mà xương quá nhỏ.
3.Vú gãy, đầu vú hướng xuống, núm vú thụt sâu vào thịt. Hoặc đầu vú nhỏ màu trắng bệch là người vụng về, hiếm con.
Đàn bà vú lép, to hông
Đít teo bụng ỏng, không mong chẳng cầu. (Ca dao).
Vú lép xẹp như đàn ông, trông như không có vú, sẽ không có sữa nuôi con, dẫn đến hiếm con. Ông bà ta thường nói: “Đàn ông không râu vô nghì (bất nghĩa), đàn bà không vú lấy gì nuôi con”.
Sách tướng cổ cho rằng: “Đôi vú là nơi vận dụng tinh hoa của huyết mạch, phân chia tả hữu cho tâm hung ( tim ngực-lồng ngực). Vú có thất khiếu (bảy lỗ) chứa đựng nguyên khí tiên thiên là mệnh cung của đàn bà, là nơi hội tụ của tinh huyết”. Văn hào Pháp Anatole France có quan điểm tương đồng với Tướng lý Đông phương qua câu: “Une femme sans poitrine, c’est un lit sans oreillers” (Người đàn bà không có ngực giống như chiếc giường không có gối).
b)Diện mạo:
1.Tóc thô vàng và khô, mày ngắn hẹp thưa và mỏng, hầu như không có hoặc thô ngắn.
2.Trán quá cao, mắt sâu hãm, phần dưới mắt khuyết hãm. Ánh mắt nhìn mông lung, hỗn tạp.
“Đàn bà mắt chớp quá lang,
Ửng đỏ gò má, mặt ngang, miệng dài,
Người nào khoé mắt chia hai,
Dường như giới luỷ cả đời không con”.(MYTTDC)
3.Mặt nhỏ, nhọn, tai quá nhỏ, da mặt không có huyết sắc.
4.Mang tai không cân xứng với lưỡng quyền.
5.Mũi thấp gãy hoặc quá cao, nhọn và có gân hay có vết hằn tự nhiên.
6. Nhân trung hẹp và cạn gần như bằng phẳng.
7.Môi vễnh trắng bệch hoặc xanh xám, hoặc miệng trâu (môi trên trùm lên môi dưới).
“Nồi đồng lại bị thủng trôn
Con gái nỏ mồm về ở với cha”. (Ca dao).
8.Người mập mà không có mông là số có chồng không con, sẽ cô độc cùng khốn (Phì nhân vô điến, hữu phu vô tử cô độc, cùng khốn).
9.Giọng nói lanh lãnh tiếng đồng:
Đàn bà sang sảng tiếng đồng
Chẳng khó đường chồng cũng khó đường con. (Ca dao).
Tướng học cho rằng vài ba khuyết điểm nhỏ về mắt, tai, môi thì tuy hiếm hoi nhưng vẫn còn có thể có con , nhưng các bộ vị quan trọng như Lệ đường, Vú, Nhân trung, trán bị khuyết hãm thì ít hy vọng về đường tử tức.

TƯỚNG HỒNG NHAN BẠC MỆNH
Hồng nhan là nói về những người đàn bà có nhan sắc, cũng chính vì có sắc đẹp hơn người mới được nhiều nam nhi có quyền thế để ý săn đuổi, tranh giành mới gây nên sóng gió và người đời mới gắn cho từ “hồng nhan họa thủy” ( Sắc đẹp là mầm của tai họa). Các cụ đồ nho xưa thường nói:
“Thế gian tam sự nan trừ liễu,
Hảo tửu, phì dương, nộn nữ nhi”.
mà dân chúng bình dân diễn dịch:
“Thế gian ba việc khó chừa
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương xuân”.(Ca dao).
Luật “phản phục”là qui luật tuần hoàn của Âm Dương trong đó Âm và Dương thay thế nhau, thịnh rồi suy, suy rồi thịnh luân phiên không ngừng, cái gì đầy quá sẽ tràn, cái gì đi đến cùng sẽ biến, cái gì thịnh quá sẽ suy và sắc đẹp não nùng là một dạng cùng cực sẽ gặp biến là sự gian truân, bạc mệnh.
Bạc mệnh có thể là :
-Số kiếp ba chìm bảy nổi, sự nghiệp ngắn ngủi.
-Bị tình phụ, bị cha mẹ ngăn cản tình duyên vì hủ tục hay vì lý do kinh tế.
“Bí lên ba lá, anh chắp tay thưa với ba với má
Sao không làm giàn cho bí bò ngang
Trách hồng nhan vô duyên bạc phận
Duyên nợ ở gần không đặng xứng đôi”. (Ca dao).
-Bị chồng bỏ rơi, nhan sắc tàn phai, do gặp phải người chồng không xứng đáng, hoặc gia đình chồng không hợp.
“Em như Tố Nữ trong tranh
Anh như ngòi bút chấm cành hoa mai
Tiếc thay mắt phượng mày ngài
Hồng nhan thế vậy nỡ hoài tấm thân”.(Ca dao).
-Chết sớm, góa bụa, hoặc hung tử,v.v…
Điều đặc biệt là kiếp hồng nhan đáng sợ như thế nhưng không người phụ nữ nào không muốn cho mình có một sắc đẹp tuyệt vời dù phải chấp nhận những số phận mỏng manh truân chuyên và không đấng nam nhi nào lại không ao ước được gần người đẹp để quên hết sự đời “thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.
Cũng vì “anh hùng khó qua ải mỹ nhân” nên trong lịch sử Đông Tây kim cổ, bao nhiêu triều đại sụp đổ, bao nhiêu anh hùng “thân bại danh liệt” vì các “khóe thu ba gợn sóng khuynh thành” này rồi.
“Lợi danh cạm bẫy trên đời
Hồng nhan là bã những người tài hoa”.(Ca dao).
Nhưng các cụ đồ xưa và các cô thôn nữ Việt lại rất kinh nghiệm về cái hại của kiếp hồng nhan.
” Vợ đẹp chỉ tổ đau lưng
Trà ngon tức bụng điếu thông quyện đờm”…
…”Mình đẹp cho mẹ mình lo
Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao
Thà xấu như mẹ con tao
Đêm nằm ngõ cửa, mát sao mát này”.
Hồng nhan bạc mệnh thể hiện:



a)Tướng yểu tử và uổng tử: có thể chết vì bệnh, tự sát hoặc tai nạn.
1.Mặt da hết sức căng thẳng như mặt người bằng sáp.
2.Da trắng nhợt nhạt như thiếu máu .
3.Da thịt mềm nhũn mà xương nhỏ thật nhỏ.
4.Mặt u sầu mà lại hay thon dài. “Tiền ngắn mặt dài” (Tục ngữ).
5.Có một vết chạy từ ấn đường thẳng lên chia đôi trán.
6.Đôi mắt thật tròn ,nhiều lòng trắng và sáng quắc hoặc đôi mắt có những tia đỏ nhỏ li ti quấn lấy tròng đen hoặc ánh mắt mất thần khí.
7.Trí óc thông minh tuyệt đỉnh.
” Kiếp hồng nhan nghĩ đến mà thương
Tài tình chi lắm để mang nợ đời”. (Ca dao).
8.Đôi môi co rút hoặc cong thái quá mà màu nhợt hoặc xanh xám.
9.Đôi vai so và nhọn.
Người đàn bà không phải hồng nhan mà có cái chết không yên lành thường có những dấu hiệu:
-Tóc dầy cộm, chân mày thô.
-Mắt đục thuộc dạng tứ bạch tựa mắt dê hoặc mắt trông dữ tợn (nhãn ác).
-Mũi quặp như mỏ chim ưng, hoặc mũi gẩy khúc, tai quắt.
-Mắt sâu hoắm, hai lỗ mũi hếch như mũi heo.
-Hai hàm bạnh, nhọn, đứng đằng sau trông thấy hàm.
-Thân hình thô cứng, cổ lại ngắn.
-Không bị tàn tật mà đi đứng tán loạn lúc nhanh lúc chậm, khập khễnh, lệch lạc.
Các Ngôi sao hồng nhan bạc mệnh.


Nhìn chung loài người Đông Tây kim cổ tuy thích cái đẹp mỹ nhân nhưng phần đông đều cho “cái nết đánh chết cái đẹp” ngay cả anh hùng không qua khỏi ải mỹ nhân là Napoléon cũng phải thốt lên: “Một người đàn bà đẹp làm thỏa mắt, đó là một trang sức. Một người đàn bà tốt làm đẹp lòng, đó là cả một kho tàng”.

Mời coi thêm